Có thể phát hiện hạch lympho ở cổ, cứng hàm do viêm khớp thái dương hàm hoặc kích thích cơ nhai. Nhiễm trùng có thể xâm lấn vào xương thái dương, xương sọ, nội sọ gây liệt thần kinh nội sọ do bài tiết các độc chất thần kinh hoặc hiện tượng chèn ép ở các lỗ thoát đáy sọ bị hủy xương. Do vị trí giải phẫu ở xương thái dương thần kinh VII thường bị ảnh hưởng và liệt đầu tiên.
 
Hướng chẩn đoán phát hiện viêm tai ngoài

Triệu chứng liệt thần kinh sọ cho tiên lượng rất kém, biến chứng nội sọ là nguyên nhân tử vong như thuyên tắc xoang tĩnh mạch bên, xoang hang, ngoài ra tử vong còn có thể gặp trong quá trình điều trị các biến chứng như suy tủy xương do sử dụng kháng sinh kéo dài (khoảng 4 tuần)

Nhiễm trùng có thể lan đến khung sụn ống tai ngoài và xuyên qua rãnh Santorini đến xương thái dương gây viêm xương. Đây được coi là dấu hiệu đặc trưng của sự xâm lấn nhiễm trùng này là có sự hiện diện của mô hạt ở điểm tiếp hợp sụn xương ống tai ngoài. Dấu hiệu này cực kỳ quan trọng để chẩn đoán viêm ống tai ngoài ác tính.

Do sự khác biệt và mối quan hệ giữa quá trình tiến triển của bệnh và phương hướng điều trị, khi chẩn đoán chủ yếu là cần phân biệt rỏ viêm ống tai ngoài thông thường với viêm tai ngoài ác tính, nhất là tổn thương các cấu trúc bên ngoài da ống tai chỉ hiện diện ở viêm tai ác tính, viêm đáy xương sọ là biến chứng của viêm tai ngoài ác tính mặc dù đôi khi cũng có thể là biến chứng của nhiễm trùng tai giữa.

Viêm tai ngoài ác tính xuất hiện tiêu biểu ở bệnh nhân tiểu đường hoặc suy giảm miễn dịch như hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, bệnh nhận có các bệnh lý ác tính hoặc đang hóa trị liệu.

Cơ chế bệnh: tiếp liệu máu đến cơ quan kém hẳn đối với bệnh nhân tiểu đường do tổn thương viêm các vi mạch máu gây ra bởi Pseudomonas, đồng thời làm suy giảm chức năng bạch cầu đa nhân và độ pH ráy tai thiên acid hơn. Những yếu tố này cùng với độc lực của P. aeruginosa làm độ acid tăng cao hơn là môi trường tốt cho vi khuẩn phát triển dẫn đến giảm sức đề kháng của cơ thể.

Hướng thăm khám và chẩn đoán viêm tai ngoài dựa theo mức độ đo lường các chỉ số sau

+ Tốc độ lắng máu: tăng cao trong viêm tai ngòai ác tính, vì vậy rất hữu dụng để theo dỏi đáp ứng điều trị (VS giảm)
+ Công thức máu
+ Đường máu
+ Creatinine
+ Cấy vi trùng
+ Giải phẫu bệnh lý mô hạt ở da ống tai

- CT scan: đặc biệt hiệu quả trong chẩn đoán nhiễm trùng có hay không xâm lấn vào cấu trúc xương thái dương, xương sọ và nội sọ

Xương chủm, đỉnh xương đá bị xâm lấn đầu tiên. Các xương kế cận hiếm khi xảy ra trong thời đại kháng sinh ngày nay.

Điểm cần lưu ý khi đọc CT scan: ít nhất 1/3 khoáng xương đã bị mất trước khi có những thay đổi rõ ràng trên phim, ngược lại sự tái tạo xương vẫn tiếp tục một thời gian dài sau điều trị nhiễm trùng. Vì vậy cùng với quá trình nhiễm trùng, hình ảnh hủy xương trên CT scan xuất hiện tương đối chậm cũng như hình ảnh tạo xương cũng xuất hiện rất chậm. Chính những lý do này đã giới hạn giá trị của CT scan trong tiến trình theo dõi bệnh.