Về lâu dài, lớp sụn khớp phủ trên bề mặt xương dần bị mỏng đi và hư tổn, gây đau nhức, hạn chế vận động, thậm chí có thể bị tàn phế. Đây là quá trình diễn biến tất yếu của cơ thể.

Thoái hóa khớp được chia làm hai loại

- Thoái hoá khớp nguyên phát do lão hoá của tổ chức sụn khớp, đầu xương và các tổ chức phần mềm quanh khớp, hoặc do sụn khớp được tưới máu và nuôi dưỡng kém,… dẫn đến mất tính đàn hồi và khô cứng. Khi hoạt động, sụn chạm vào đầu xương, gây hoại tử ở nơi chịu áp lực mạnh nhất.
- Thoái hoá khớp thứ phát thường do sự lão hoá sớm của sụn khớp, xuất hiện sau chấn thương làm tổn thương diện khớp, hoặc từ những chấn thương nhỏ nhưng tác động nhiều lần, khớp hoạt động quá tải; do di chứng của viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm đa khớp dạng thấp…Những người béo phì cũng thường mắc chứng thoái hóa khớp do quá nặng cân, các khớp luôn trong tình trạng bị sức ép lớn. Những thể thứ phát này thường trầm trọng hơn những thể nguyên phát, bệnh có thể mắc ở người trẻ tuổi.
Thoái hóa khớp là gì ? Triệu chứng nhận biết và cách điều trị

Các yếu tố nguy cơ

- Tuổi cao: Tuổi càng cao, càng dễ bị thoái hóa khớp, do tình trạng lão hóa khớp diễn biến theo thời gian
- Lao động nặng nhọc: Những đối tượng lao động nặng nhọc như công nhân bốc vác, gánh nặng, nâng nhấc vật nặng…
- Tư thế lao động: Những đối tượng làm việc ngồi nhiều, đứng lâu, tư thế làm việc không thoải mái …
- Béo phì: Theo các nghiên cứu cho thấy thì béo phì có liên quan mật thiết tới bệnh thoái hóa khớp. Những người béo phì có nguy cơ mắc bệnh thoái hóa khớp cao hơn những người bình thường. Nếu bệnh nhân mắc bệnh béo phì đang trong thời gian giảm kg thì nó đồng thời cũng giảm nguy cơ tiến triển của bệnh
- Hormone: Phụ nữ sau tuổi Mãn kinh và nam giới sau 60 tuổi, hormone sinh dục giảm nhanh chóng, sẽ làm tăng nhanh nguy cơ thoái hóa khớp
- Dinh dưỡng: Tùy vào nồng độ vitamin trong cơ thể người. Người có nồng độ vitamin D, vitamin C thấp, thiếu canxi, còi xương, suy dinh dưỡng từ nhỏ sẽ có nguy cơ mắc thoái hóa khớp nhiều hơn người bình thường
- Hoạt động thể lực quá mức, gây tổn thương các sụn khớp và tổ chức quanh khớp cũng làm tăng nguy cơ bị thoái hóa khớp
- Một số yếu tố khác: Di truyền, tiền sử chấn thương, phẫu thuật xương khớp, bất thường trục chi dưới, viêm khớp dạng thấp, viêm khớp nhiễm khuẩn…

Triệu chứng

Bệnh thoái hoá khớp nguyên phát hay gặp ở người 40-50 tuổi, và ở phụ nữ sau khi mãn kinh, thoái hóa khớp thứ phát xuất hiện sớm hơn, có thể từ 30 tuổi. Tùy theo vị trí khớp thoái hóa mà có biểu hiện khác nhau:
- Cột sống thắt lưng: Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân thấy đau lưng nhiều vào buổi sáng, khi mới ngủ dậy, kéo dài không quá 30 phút. Một thời gian sau, đau lưng sẽ kéo dài cả ngày, tăng khi làm việc nhiều và giảm khi nghỉ ngơi. Thoái hóa cột sống hay gặp từ đốt sống thắt lưng trở xuống, thường ảnh hưởng đến thần kinh tọa làm người bệnh có cảm giác đau từ lưng xuống, đau vùng mông, mặt sau đùi, nhiều trường hợp đau xuống đến cả bàn chân.
- Cột sống cổ: Rất hay gặp ở người trên 40 tuổi. Biểu hiện chủ yếu bằng đau cơ hạn chế cử động cổ. Có thể gây biến chứng đau vùng cổ và tay do chèn ép hoặc kích thích rễ thần kinh khi khám thấy các cử động tại cổ đều bị hạn chế nhất là động tác nghiêng bên. Chụp Xquang tổn thương thường ở đốt cổ 5 và cổ 6, giữa cổ 6 và cổ 7, gây cảm giác mỏi và đau gáy, lan đến cánh tay bên phía dây thần kinh bị ảnh hưởng.
- Khớp gối: Ngoài triệu chứng đau có thể kèm theo tiếng lạo xạo, lụp cụp khi co duỗi gối, đau nhiều hơn khi đi lại vận động; nhất là khi ngồi xổm thì đứng dậy rất khó khăn, nhiều khi phải có chỗ tựa mới đứng dậy được. Bệnh nặng sẽ thấy tê chân, biến dạng khớp gối. Trong một số trường hợp màng hoạt dịch có thể bị viêm dày lên, khi ấn vào xương bánh chè đồng thời gấp chân lại, có thể gây đau nhói và một tiếng rắc.
- Gót chân: Bệnh nhân có cảm giác đau ở gót vào buổi sáng mới ngủ dậy, khi đi những bước đầu tiên, sau vài chục mét thì giảm đau và đi đứng bình thường. Chụp X quang có thể thấy hình ảnh gai xương.
- Khớp háng: Người bệnh đi lại khó khăn do đau ngay từ đầu, vì khớp này gánh trọng lượng cơ thể nhiều nhất. Đau thường ở vùng bẹn và mặt trước trong của đùi. Cũng có khi đau vùng mông, mặt sau của đùi, dễ nhầm với đau dây thần kinh hông to. Đau xuất hiện khi đi, do đó hạn chế việc đi lại biểu hiện bằng việc đi khập khiễng. Nằm nghỉ thì hết đau, những trường hợp thoái hóa khớp nặng, đau cả ban đêm, lúc nghỉ và có thể gặp teo cơ đầu đùi. Bệnh không tự khỏi mà tiến triển từ từ có thể dẫn đến cứng khớp không hoàn toàn.
Thoái hóa khớp là gì ? Triệu chứng nhận biết và cách điều trị

Điều trị

Nhìn chung tổn thương do thoái hóa khớp là không thể thay đổi, việc điều trị chỉ làm chậm quá trình diễn biến bệnh thôi. Ở những khớp chưa cứng hoàn toàn, việc điều trị có thể ngăn chặn được những suy giảm chức năng.

Thoái hoá khớp có thể điều trị bằng hai phương pháp:

Điều trị nội khoa:
- Giai đoạn đau khớp, người bệnh cần phải nghỉ ngơi, tránh tất cả những hoạt động gây đau. Dùng vật lý trị liệu để làm tăng tưới máu tại chỗ cho khớp.
- Trong giai đoạn đau khớp cấp, bất động khớp, thậm chí bó bột là điều rất cần thiết (chỉ nên bất động trong thời gian ngắn để tránh cứng khớp). Ngay sau khi hết đau cấp, phải tập vận động khớp nhẹ nhàng, phù hợp.
- Để dự phòng những tư thế xấu (khớp gối vẹo vào trong hoặc quay ra ngoài), hoặc để giảm đau, có thể sử dụng các loại băng, nịt, nẹp, khung đỡ,… hay đơn giản như là một chiếc gậy, một chiếc nạng nếu bị hư khớp chi dưới.
- Sử dụng thuốc:
Trong những trường hợp thoái hóa xương khớp, những thuốc cơ bản được sử dụng là:
+ Thuốc giảm đau: trong trường hợp đau nhiều, đau kéo dài, bác sĩ thường cho thuốc giảm đau chống viêm không steroid (NSAIDs) như ibuprofen, diclofenac, indometacin…phối hợp với paracetamol.
+ Thuốc giãn cơ: như mydocalm, decontractyl…
+ Thuốc chống thoái hóa khớp tác dụng chậm như: glucosamin sulfat, chondroitin sulfat, diacerin
+ Các vitamin nhóm B, Ginkgo Biloba
+ Những thuốc an thần, đặc biệt nhóm diazepam có thể sử dụng trong trường hợp đau do co cơ, hoặc người bệnh quá lo lắng, nhưng không được dùng dài ngày vì dễ gây nghiện.
Giảm sự chèn ép lên các khớp bằng cách tăng cường sức khỏe xương khớp, đó là bổ sung sản phẩm chứa đủ hàm lượng và cân đối các dưỡng chất cần thiết cho xương khớp như Canxi, vitamin D, MK7 và các khoáng chất khác (kẽm, magie, đồng, boron, silic, mangan,…).

Điều trị ngoại khoa:
Có ba loại phẫu thuật được áp dụng đó là:
- Phẫu thuật dự phòng nhằm lập lại tình trạng bình thường các khớp có nguy cơ bị thoái hoá như trật khớp háng bẩm sinh, tiêu chỏm xương, nhuyễn sụn xương bánh chè, lệch trục đầu gối…
- Phẫu thuật bảo tồn khi khớp chưa bị hư hỏng nặng, có thể sửa chữa đưa về điều kiện cơ học của chức năng bình thường
- Phẫu thuật thay thế trong trường hợp khớp quá hư hỏng, không thể phục hồi được, có thể thay thế từng phần, thậm chí toàn bộ khớp bằng khớp nhân tạo.

Phòng bệnh thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp là một quá trình bệnh khó tránh khỏi ở người lớn tuổi, nhưng không phải ai cũng mắc bệnh ở tuổi già. Điều này cho thấy bệnh không phải là quá trình tất yếu của tuổi già, mà hàm ý rằng phòng bệnh đóng vai trò rất quan trọng vì có thể ngăn ngừa và hạn chế các yếu tố thúc đẩy quá trình thoái hóa, làm quá trình này xảy ra chậm hơn, muộn hơn và nhẹ hơn. Phòng ngừa bệnh thoái hóa khớp có thể tập trung vào việc giảm các yếu tố nguy cơ ở trên:

- Điều chỉnh cân nặng ở trọng lượng lý tưởng, tránh dư cân béo phì.
- Tránh các tư thế xấu trong sinh hoạt và lao động hàng ngày như động tác gập gối, ngồi xổm, leo trèo, đứng nhiều, lắc tay, bảo đảm vệ sinh và an toàn lao động để giảm các lực tỳ đè bất hợp lý lên sụn khớp.
- Cố gắng tập thể dục hàng ngày và giữa các giờ lao động. Khi có tuổi, cần duy trì chế độ tập thể dục đều đặn, vừa sức, tốt nhất là đi xe đạp, đi bộ, bơi lội và tập dưỡng sinh...
- Tránh các động tác quá mạnh, đột ngột, tránh sai tư thế khi mang vác nặng.
- Phát hiện và điều trị sớm các dị tật, các di chứng của chấn thương, các bệnh lý tại khớp và cột sống.
- Bảo đảm chế độ dinh dưỡng đầy đủ, cân đối. Đặc biệt bổ sung canxi, vitamin D và vitamin C,… vào khẩu phần ăn hàng ngày của người có tuổi.
- Sử dụng các sản phẩm có chứa các thành phần như canxi, vitamin D, MK7, chondroitin sulfat,… giúp tăng tái tạo xương, tái tạo mô sụn.

Mọi thắc mắc bạn đọc xin gửi về songkhoe@bacsituvan.vn hoặc gọi 19001259 để được bác sĩ tư vấn miễn phí !

 
Ths.Bs Vũ Văn Lực